Giỏ hàng của bạn

Số sản phẩm: 0

Thành tiền: 0

Xem giỏ hàng

Thống kê

Đang online 33
Hôm nay 38
Hôm qua 201
Trong tuần 239
Trong tháng 2,400
Tổng cộng 77,758

PHÁT TRIỂN TRANG TRẠI CHĂN NUÔI HÀNG HÓA / LÃI LỚN NHỜ “BẮT” NA RA QUẢ / HIỆU QUẢ CÂY MÀU GIỮA MÙA KHÔ HẠN / KỸ THUẬT TRỒNG CÂY BƠ/KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY CA CAO

24-10-2016

Hiện nay, trong khi nông dân các tỉnh ĐBSCL đang vất vả đối phó với hạn hán và xâm nhập mặn, thì những người trồng rau màu ven sông Hậu thuộc 2 tỉnh Vĩnh Long và Đồng Tháp lại trúng mùa.

PHÁT TRIỂN TRANG TRẠI CHĂN NUÔI HÀNG HÓA
 
Cùng với sự phát triển trồng trọt, thị xã Thái Hòa (Nghệ An) đã không ngừng mở rộng cả về số lượng và chất lượng trang trại chăn nuôi...
 
Cùng với sự phát triển trồng trọt, thị xã Thái Hòa (Nghệ An) đã không ngừng mở rộng cả về số lượng và chất lượng trang trại chăn nuôi, góp phần thúc đẩy sản xuất hàng hóa, tăng sức cạnh tranh nông sản, giúp nhiều hộ nông dân vươn lên làm giàu.
 
Một trang trại bò sữa ở thị xã Thái Hòa
 
Theo Ban Chấp hành Hội Kinh tế trang trại thị xã Thái Hòa, tính đến tháng 12/2016 toàn thị xã có 95 trang trại và gia trại, tập trung ở các địa phương như xã Nghĩa Thuận, Đông Hiếu, Tây Hiếu, Nghĩa Hòa, Nghĩa Tiến, Nghĩa Mỹ. Loại hình trang trại chăn nuôi chiếm doanh thu lớn nhất. Tổng giá trị doanh thu bình quân 500 triệu đồng/năm, có xu hướng tăng nhanh.
 
Điển hình là trang trại chăn nuôi lợn siêu nạc, kết hợp chăn nuôi gà thả vườn, ngan, ba ba, cá nước ngọt của chị Nguyễn Thị Cầu, xóm Phú An, xã Tây Hiếu đạt tổng doanh thu 2,9 tỷ đồng/năm. Đặc biệt là số trang trại chăn nuôi bò sữa lớn nhất tỉnh, tổng số 11 trang trại, bình quân số đầu bò sữa đến nay 16 con/trang trại.
 
Các trang trại bò sữa đồng loạt xây dựng chuồng trại theo kiểu mới, trang bị nhiều loại máy móc, sử dụng chế độ dinh dưỡng phù hợp tạo ra năng suất sữa cao. Năng suất sữa bình quân từ 17 lít đã lên 25 lít/con/ngày; đặc biệt có con bò sữa trên 30 lít/con/ngày. Trang trại bò sữa của anh Trần Duy Đức ở xóm Đông Hưng, xã Nghĩa Mỹ, tổng doanh thu mỗi năm 1,8 tỷ đồng/năm. Chăn nuôi bò sữa có liên kết hợp đồng bao tiêu nên giá cả sản phẩm ổn định. Doanh thu trang trại bò sữa đạt phổ biến từ 1,1 - 2 tỷ đồng/năm.
 
Đặc biệt trang trại chăn nuôi bò sữa của anh Hồ Sỹ Điều, xã Nghĩa Tiến mỗi năm doanh thu 2,4 tỷ đồng. Cùng với trang trại bò sữa, trang trại chăn nuôi lợn tăng nhanh. Đến nay đã có 7 trang trại đầu tư chuồng trại theo hướng hiện đại, thay đổi chuồng lợn nái chuồng nền lên chuồng sàn, thay đổi ô lợn thịt từ 10 con/ô lên 50 - 100 con/ô, sử dụng nhiều thiết bị tự động, lợn thịt tăng trọng đạt 30kg/tháng.
 
Số trang trại lợn thịt tăng 200 con/lứa lên 500 con/lứa. Cá biệt có trang trại chăn nuôi lợn siêu nạc của chị Nguyễn Thị Hoa, xã Nghĩa Mỹ, doanh thu mỗi năm 5,8 tỷ đồng, bình quân trang trại thu hút lao động thường xuyên là 5 người và lao động thời vụ là 15 người, lương bình quân đạt 4,5 triệu đồng/tháng. Tuy nhiên, so với tiềm năng đất đai, con người trên địa bàn và quy mô trang trại chăn nuôi ở các tỉnh khác thì quy mô trang trại trên địa bàn thị xã Thái Hòa vẫn còn khiêm tốn.
 
Để kinh tế trang trại thực sự tạo sức mạnh mới trong nông nghiệp, cần tuyên truyền phổ biến, hướng dẫn thực hiện cơ chế chính sách khuyến khích phát triển chăn nuôi, tổ chức đào tạo bồi dưỡng kỹ thuật nghiệp vụ quản lý, kiến thức thị trường cho các chủ trang trại và người lao động, chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất...
 
Các trang trại cần liên kết với các doanh nghiệp hoặc hình thành hợp tác xã, tổ hợp tác, tổ nghề nghiệp tìm đối tác để ký kết bao tiêu đầu ra cho sản phẩm, hình thành chuỗi liên kết sản phẩm từ khâu sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm để tạo ra sản phẩm sạch, đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường.
 
Nguyễn Minh Thảo
NongNghiep.vn
Hotline: 0128 594 0804 (Đại lý CHUYÊN phân phối sản phẩm công ty)
GIÁ THÂP NHẤT, GIAO HÀNG TẬN NƠI)
 
LÃI LỚN NHỜ “BẮT” NA RA QUẢ
Với nhiều cách làm sáng tạo: bắt cây na dai trổ quả trên thân, cắt cành hợp lý, tự tay “thụ phấn” nông dân ở huyện Lục Nam (Bắc Giang) đã tạo nên một vụ na bội thu với sản lượng lớn, thời gian thu hoạch kéo dài, từ đó nâng cao giá trị quả na, thu hơn 300 tỷ đồng trong năm 2016.
 
Thu hoạch na ở Lục Nam.
Kéo dài thời gian thu hoạch
 
Na dai được trồng ở Lục Nam từ nhiều năm nay và ngày càng phát triển mạnh. Với thổ nhưỡng, khí hậu phù hợp, na Lục Nam có vị thơm, ngon, ngọt mát, quả to đều và đã được Cục Sở hữu trí tuệ xác nhận nhãn hiệu tập thể “Na dai Lục Nam” từ năm 2014. Về qua các xã Huyền Sơn, Nghĩa Phương, Vô Tranh… bạt ngàn một màu xanh mướt của na dai. Những năm gần đây, na dai Lục Nam được các thương lái đến tận nơi thu mua và đã có mặt ở nhiều thị trường: Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Quảng Ninh, Thừa Thiên- Huế…
 
Tuy nhiên, nếu như cách đây khoảng 3 năm, vụ na của Lục Nam chỉ kéo dài trong thời gian khoảng 1 tháng thì hiện nay đã có thể kéo dài đến khoảng… 6 tháng. Đó chính là do những sáng tạo độc đáo của người dân trong việc tỉa cảnh, bón phân, rải vụ hợp lý. 
 
Theo anh Hoàng Xuân Hòa, xã Nghĩa Phương thì hiện người dân ở đây có thể “điều khiển” cho na ra hoa, quả bất kỳ lúc nào bằng cách tỉa cành vào những thời điểm nhất định và sử dụng chất dinh dưỡng bón hợp lý để na có thể ra quả ngay trên thân cây. Từ khoảng tháng Giêng, người dân ở đây đã bắt đầu vào việc tỉa cành để tới khoảng tháng 6 đã có na được thu hoạch. 
 
Với cách làm này, có thể thấy ở đây những khu vườn na đang được thu hoạch xen lẫn với những vườn bắt đầu ra hoa. Thú vị hơn, những quả na mặc dù được ra trái vụ nhưng vẫn giữ được những đặc trưng riêng có của na dai Lục Nam đó là quả to, mọng, mắt đều, vị ngọt mát. Người dân cũng vì thế mà không bao giờ lo cảnh “được mùa, rớt giá” như nhiều loại cây trồng khác. “Có những thời điểm tôi bán được 50.000-60.000 đồng/kg, cao gấp đôi, gấp ba so với chính vụ”, anh Hòa chia sẻ.
 
Thương hiệu “na dai Lục Nam” thu 300 tỷ
 
Ông Bùi Văn Quang, Chủ nhiệm HTX na dai Lục Nam cho biết, mặc dù mùa na chính vụ đã hết từ lâu nhưng khoảng nửa tháng nữa thì người dân Lục Nam lại được thu hoạch tiếp một vụ nữa. 
 
Hiện nay, toàn huyện Lục Nam đã có khoảng 1/3 diện tích na bắt đầu chuyển dần sang trồng, chăm sóc na trái vụ bởi giá bán thường cao hơn. Theo tính toán của ông Quang, nếu giá na chính vụ chỉ khoảng 20.000 đồng/kg thì giá na trái vụ thường khoảng 40.000- 45.000 đồng/kg, na đẹp có thể còn cao hơn. 
 
“Làm na trái vụ thường vất vả hơn do phải chú ý đến sinh trưởng, phát triển của cây đồng thời phải có chế độ chăm sóc khoa học. Hiện nay, chỉ có những gia đình có đủ nhân lực, thời gian mới có thể làm được nhưng cũng là một con số đáng khích lệ. Trong thời gian tới, chúng tôi đang từng bước giảm dần diện tích na chính vụ để chuyển sang na trái vụ”, ông Quang nói.
 
Ông Vũ Văn Sơn, Trưởng phòng Nông nghiệp huyện Lục Nam cho biết, đây là vụ na thắng lợi lớn của huyện. Thời gian thu hoạch na đã kéo dài từ tháng 6 đến khoảng tháng 12. Sản lượng ước đạt 14.000 tấn, với giá bán trung bình vào chính vụ là khoảng 20.000 đồng thì người dân Lục Nam đã có thể thu về khoảng gần 300 tỷ đồng. Nhưng chắc chắn con số thực tế sẽ còn cao hơn thế bởi giá na càng trái vụ càng tăng. 
 
Huyện đang hướng dần việc trồng na của người dân theo tiêu chuẩn VietGAP. Hiện Lục Nam đã có 650 ha na được trồng theo tiêu chuẩn này đạt sản lượng khoảng 5.600 tấn. Theo kế hoạch của huyện Lục Nam dự kiến đến năm 2020, diện tích na tăng thêm 500-600 ha, tập trung tại các xã trọng điểm là Huyền Sơn, Cương Sơn, Lan Mẫu, Đông Phú, Nghĩa Phương, Tiên Nha… 
 
“Chúng tôi đang xây dựng sản phẩm này trở thành sản phẩm chủ lực trong phát triển nông nghiệp của huyện đồng thời để thương hiệu “na dai Lục Nam” ngày càng đi xa hơn, được nhiều người tiêu dùng trong và ngoài nước biết đến”, ông Sơn cho biết. 
 
Hiện nay, toàn huyện Lục Nam đã có khoảng 1/3 diện tích na bắt đầu chuyển dần sang trồng, chăm sóc na trái vụ bởi giá bán thường cao hơn. Theo tính toán của ông Quang, nếu giá na chính vụ chỉ khoảng 20.000 đồng/kg thì giá na trái vụ thường khoảng 40.000- 45.000 đồng/kg, na đẹp có thể còn cao hơn.
 
Nguyễn Trường (Báo Tiền Phong)
 
 
HIỆU QUẢ CÂY MÀU GIỮA MÙA KHÔ HẠN
Hiện nay, trong khi nông dân các tỉnh ĐBSCL đang vất vả đối phó với hạn hán và xâm nhập mặn, thì những người trồng rau màu ven sông Hậu thuộc 2 tỉnh Vĩnh Long và Đồng Tháp lại trúng mùa.
 
Cánh đồng màu xanh tốt giữa mùa khô hạn ở xã Tân Bình - Ảnh: An Lạc
Bỏ túi bạc triệu…
 
Cuối tháng 3.2016, thời tiết tại ĐBSCL tiếp tục oi bức, nắng như đổ lửa, thế nhưng người dân các xã Tân Bình, Thành Lợi, Tân An Thạnh, Tân Hưng (H.Bình Tân, Vĩnh Long) vẫn hồ hởi trên cánh đồng màu. Anh Nguyễn Hồng Văn (ngụ xã Tân Bình) cho biết: “Cách đây hơn một tuần, gia đình tôi thu hoạch 1,5 công bắp cải được hơn 6 tấn. Thương lái mua tại ruộng với giá 7.000 đồng/kg, trừ chi phí còn lời khoảng 34 triệu đồng, cao gấp nhiều lần so với làm lúa”. Theo anh Văn, mức lời trên cứ tưởng cao chót vót nhưng không ngờ hiện giá bắp cải tiếp tục tăng từ 10.000 đồng/kg trở lên, nên những hộ thu hoạch sau còn trúng đậm hơn.
 
Cùng niềm vui trúng giá rau màu, chị Trần Thị Lệ (ngụ xã Thành Lợi) nói: “Vụ này tôi sản xuất chỉ có 2 công dưa leo nhưng thu hoạch được gần 3 tấn trái, bán với giá 12.000 đồng/kg, tính ra lời khoảng 20 triệu đồng. Ông Nguyễn Cao Miên, Giám đốc HTX Rau củ quả Tân Bình (H.Bình Tân), cho biết: “Rất bất ngờ khi giá rau màu mùa hạn hiện nay tăng rất cao, hơn cả dịp Tết Nguyên đán 2016. Cụ thể, giá bắp cải dao động từ 10.000 - 12.000 đồng/kg, dưa leo 12.000 - 14.000 đồng/kg, hành lá khoảng 400.000 đồng/tạ; khoai lang 500.000 đồng/tạ… đây là mức giá mà nông dân có lời cao”.
 
Tại các xã ven sông Hậu thuộc H.Lai Vung (Đồng Tháp) như xã Phong Hòa, Định Hòa, Tân Hòa… nông dân cũng tranh thủ trồng rau màu giữa mùa khô hạn. Theo UBND xã Tân Hòa, hằng năm cứ vào mùa khô là nông dân trong xã trồng khoảng 300 - 400 ha rau màu các loại như: mè, huệ, nấm rơm, dưa, ớt… Đây là những loại cây cho hiệu quả kinh tế cao, hứa hẹn giúp bà con vươn lên khá giả. Lợi thế của vùng này là nằm cạnh sông Hậu, có nguồn nước ngọt quanh năm, đất đai tốt, cộng với hệ thống thủy lợi và giao thông nông thôn được đầu tư hoàn chỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho cây màu phát triển.
 
Phát huy lợi thế để làm giàu
 
Theo Phòng NN-PTNT H.Bình Tân, qua theo dõi nhiều năm thì vùng ven sông Hậu không hề bị thiếu nước trong mùa khô và rất phù hợp để trồng rau màu. Vì thế, cây màu ngày càng bám rễ và không ngừng mở rộng diện tích. Ông Lê Văn Trung, Giám đốc HTX Rau an toàn Thành Lợi, cho biết: “Thông thường vào mùa khô hạn và mùa lũ thì nhiều nơi không trồng được rau màu, do đó giá cả thường tăng cao. Tận dụng lợi thế trên, mấy năm nay, nhiều hộ dân sống ở vùng ven sông Hậu đã mạnh dạn chuyển từ cây lúa sang trồng rau màu các loại và hiệu quả kinh tế mang lại khá cao”.
 
Trong khi đó, Phòng NN-PTNT H.Lai Vung cho biết đến thời điểm này, dù lúa đang được giá nhưng khi so sánh thì vẫn không bằng cây màu. Điển hình như nông dân trồng mè lời khoảng 50 - 60 triệu đồng/ha/vụ, khoai lang 250 triệu đồng/ha/vụ, đậu bắp lời 70 triệu đồng/ha/vụ, dưa lê lời 170 triệu đồng/ha/vụ, huệ lời 150 - 180 triệu đồng/ha, dưa leo 100 triệu đồng/ha/vụ… Tất cả đều cao hơn nhiều so cây lúa. H.Lai Vung đã xây dựng được vùng chuyên canh màu rộng hơn 200 ha ở xã Phong Hòa, giúp nông dân chuyển đổi từ sản xuất nhỏ lẻ sang canh tác tập trung, quy mô lớn, được đầu tư bài bản về khoa học kỹ thuật, gắn nhu cầu thị trường, sản phẩm đảm bảo tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm; hướng tới tiêu chuẩn VietGAP...
 
TS Lê Văn Bảnh, nguyên Viện trưởng Viện lúa ĐBSCL, cho rằng chuyển đổi cơ cấu sản xuất, trong đó có việc giảm đất trồng lúa để trồng màu, cây ăn trái… đang được ngành nông nghiệp khuyến cáo, nhằm tăng thu nhập cho nông dân và ứng phó phù hợp với điều kiện hạn, mặn, thiếu nước ngọt ngày càng gay gắt. Cây màu giữa mùa khô hạn ở vùng ven sông Hậu là hướng đi triển vọng, cho hiệu quả kinh tế cao, nông dân có thể vươn lên làm giàu, do đó cần nghiên cứu nhân rộng ở những vùng có điều kiện tương tự...
 
An Lạc (Báo Thanh Niên)

 

KỸ THUẬT TRỒNG BƠ

I. ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ CỦA HOA BƠ :

 

http://gianhangvn.com/hvp
Hotline: 0128 594 0804 (Đại lý CHUYÊN phân phối sản phẩm công ty)


Mặc dù hoa mang tính chất lưỡng tính, nhưng đặc điểm thụ phấn tùy thuộc vào hoạt động sinh lý của nhị và nhụy. Qua nhiều nghiên cứu hiện tượng nở hoa và thụ phấn được J.A.Samson (1980) quan sát ghi nhận sự thụ phấn của hoa bơ mang tính tạp giao. Căn cứ vào thời gian hoạt động của nhị và nhụy, các tác giả đã chia bơ ra thành 2 nhóm:

 

- Nhóm A: hoa nở lần 1 vào buổi sáng; nhụy chín nhưng nhị chưa tung phấn; tiếp theo đó là thời kỳ hoa cụp lại; hoa nở lần 2 vào buổi trưa ngày hôm sau; nhị chín tung phấn nhưng nhụy không còn khả năng thụ phấn nữa.

Khoảng cách thời gian giữa 2 lần nở hoa của một hoa kéo dài trên 24 giờ.

Nhóm B: có đặc điểm nở hoa ngược lại: hoa nở một lần vào buổi chiều; nhụy chín sẵn sàng đón phấn; tiếp theo đó là thời gian hoa cụp lại khoảng dưới 24 giờ; hoa nở lần 2 vào buổi sáng hôm sau; nhị chín và tung phấn.

Như thế hai nhóm A và B có đặc tính bổ sung sự thụ phấn cho nhau để cây đậu quả tốt. Nghiên cứu và ứng dụng tập tính nở hoa của các giống là yếu tố quyết định việc trồng bơ có hiệu quả kinh tế.

Hiện tại chưa có đủ tài liệu để phân loại giống, nhưng vài tác giả đã phân chia một số giống như sau:

- Nhóm A: gồm các giống: Mexicola, Puebla, Jalna, Gottfried, Taylor, Queen, Dickinson, Waldin, Simmonds, Collinson, Wagner, Taft, Lula, Dunedin....

Nhóm B: gồm các giống: Wilslowson, Nabal, Pollock, Trap, Fuerte, Mc Donald, Schmidt, Tonnage, Linda, Hardy...

Trong đó một số giống có khả năng tự thụ phấn gồm: Hass, Trap, Lula, Waldin, Taylor, Fuerte, nhưng trồng riêng rẽ những giống này thường không thể cho năng suất cao được.

 

II. ĐẶC TÍNH SINH THÁI CỦA CÂY BƠ

Cây bơ có rất nhiều giống thuộc các chủng khác nhau .

1. Về nhiệt độ: cây bơ có nguồn gốc ở các xứ nhiệt đới Trung Mỹ, phân bố ở độ cao dưới 1.000 - 2.700 m.

Mỗi giống có yêu cầu về nhiệt độ khác nhau.. Tuy nhiên, người ta tạm chia các giống bơ ra thành 5 nhóm căn cứ vào sức kháng lạnh như sau:

Nhóm chịu lạnh rất giỏi: có Lula, Taylor...

Nhóm chịu lạnh giỏi: có Nabal, Hall, Tonnage...

Nhóm chịu lạnh khá: Booth 8, Monroe, Wagner, Choquette...

Nhóm chịu lạnh kém: Booth 7, Waldin, Hickson, Collinson, linda...

Nhóm chịu lạnh rất kém: Pollock, Trap...

2. Ẩm độ: lượng mưa tối thích cho cả năm là 1.000 - 1.500mm. Khi bơ ra hoa, nếu gặp trời mưa dầm, ẩm độ không khí quá cao, hoa sẽ rụng nhiều. Do đó, bơ cần có một mùa khô mát để ra hoa đậu quả tốt. Mưa nhiều vào mùa quả chín cũng làm giảm chất lượng quả, hàm lượng dầu không cao.

3. Gió: Cây bơ có gỗ dòn, chống gió yếu nên vấn đề trồng cây che chắn gió có tác dụng hạn chế đổ gãy đồng thời giảm tốc độ bốc thoát hơi nước vào mùa ra quả (mùa khô) để cây không bị rụng trái. Gió còn làm trái cọ sát lẫn nhau, cọ sát với lá, cành gây ra bệnh sinh lý làm giảm giá trị trái bơ.

4. Đất đai: có thể trồng bơ trên nhiều loại đất khác nhau: đất sét pha cát, đất pha sét, đất thịt nặng. Nhưng vấn đề đặc biệt cần lưu ý là đất phải thông thoáng, dễ thoát nước, giầu chất hữu cơ. Lớp đất thông thoáng thoát thủy phải sâu ít nhất là 90 cm. Đất có mạch nước ngầm thấp sâu ít nhất là 2m, vì trong thời kỳ đầu sinh trưởng, rễ bơ ăn cạn, cây vẫn phát triển tốt nhưng càng về sau, bộ rễ ăn càng sâu, gặp đất úng thủy, rễ phát sinh nấm Phytophthora làm chết cây.

III. KỸ THUẬT TRỒNG BƠ:

1. Cách nhân giống: 
-
Gieo hạt, chiết hoặc giâm cành và ghép cây. 
Phương pháp ghép nêm chồi ngọn đạt tỷ lệ sống cao trên 80%), cây con đạt tỷ lệ xuất vườn cao (trên 90%); thời gian xuất vườn ngắn nhất (8 - 10 tháng). Ở Đắc Lắc thời vụ ghép tốt là đầu hoặc giữa mùa mưa (tháng 5, 6, 7 và 8), sử dụng chồi non, cành bánh tẻ và mắt xanh để ghép là tốt hơn cả. Bơ sáp, bơ mỡ và bơ nước đều có thể sử dụng làm gốc ghép cho bơ. Phương pháp ghép nêm chồi ngọn cây sinh trưởng tốt hơn phương pháp ghép cắt và ghép áp đoạn cành. 
- Gieo hạt thì sau 5 – 6 năm mới có quả - Chiết ghép và giâm cành thì sau 2 – 3 năm mới có quả 
2.Cách trồng: 
- Đào hố: sau khi đã dọn sạch cỏ và làm đất kỹ, đào hố rộng 60 cm, sâu 60 cm. Nên trồng vào đầu mùa mưa và trồng xen các giống bơ để tăng cường khả năng thụ phấn và đậu quả. Vì hoa bơlưỡng tính nhưng hoa đực và cái không chín cùng một lúc, nên không có khả năng tự thụ phấn

- Khoảng cách trồng: tuỳ theo chủng và giống , khoảng cách 7 x 7 m, trồng khoảng 200 cây/ha. 
Đối với chủng Antilles và những giống lai, có thể trồng ở khoảng cách khá thưa: 8x8m hoặc 10x10m.

Vấn đề xen canh: những năm bắt đầu trồng bơ, khi cây bơ toả tán chưa rộng, có thể trồng xen rau đậu nhưng không nên trồng cà chua, khoai tây vì nấm Verticilium có thể lan truyền cho cây bơ.

- Biện pháp giữ ẩm: giai đoạn còn nhỏ, bộ rễ bơ ăn cạn, cho nên vấn đề tưới giữ ẩm và phủ gốc là cần thiết để bơ không bị chết do nóng khô vào mùa nắng; nhất là đối với những vườn bơ trồng bằng cây ghép. Tốt nhất nên tưới phun và không nên tưới đẫm vào gốc.

3.Bón phân:

a-Loại phân :

Phân hữu cơ :Trước khi trồng và trong những năm đầu,phải bón phân chuồng hoai 10-20 tấn/ha .

Phân NPK (giai đoạn cây còn nhỏ) : bón theo công thức N - P2O5 - K2O với tỷ lệ 1-1-1.

Phân NPK (giai đoạn cây lớn) :nên tăng tỷ lệ K2O và N lên theo tỷ lệ 2-1-2.

Phân vi lượng : Các nghiên cứu về phân bón cho bơ cho thấy bón phân không đủ và mất cân đối đã làm giảm độ phì đất dẫn đến giảm năng suất, cây bơ có hiện tượng ra quả cách năm nặng nề, quả nhỏ và có các triệu chứng rối loạn sinh lý sau thu hoạch như vàng lá, rụng lá. Ngoài N, P, K, các chất vi lượng như Fe, B, Zn dù chỉ bị cây bơ lấy đi qua các vụ thu hoạch với lượng nhỏ nhưng các kết quả nghiên cứu ở các vùng trồng bơ nổi tiếng trên thế giới cũng cho thấy có hiện tượng thiếu vi lượng trên cây bơ và gây ảnh hưởng xấu đến năng suất, kích cỡ và chất lượng quả bơ.

b-Hướng dẫn bón phân cho cây bơ ghép:

Cây bơ ghép thường được trồng thuần thành vườn với mật độ 200 cây/ha (7 x 7m). Bơ cũng có thể trồng rải rác trong vườn hoặc trồng làm cây che bóng, chắn gió cho các vườn cây công nghiệp. Cây bơ thực sinh thường mọc khỏe, ít được chăm sóc bón phân cây vẫn lớn nhanh. Khi trồng cây bơ ghép nên chú ý vấn đề chăm bón cho cây nhiều hơn.

* Thời kỳ kiến thiết cơ bản:

. Bón lót khi trồng: Đào hố rộng 60x60x60cm.

+ Phân chuồng hoai                         : 10-20 kg/hố

+ Phân hữu cơ sinh học HVP 401B :  3 kg/hố

+ Phân vi lượng HVP ORGANIC : 0.3 kg/hố

+ Lân nung chảy                               : 0,5 kg/hố

+ Vôi                                                  : 0,3 kg/hố.

Lượng phân lót này được trộn đều với lớp đất mặt rồi lấp đầy hố.

 

Bón thúc sau khi trồng 20-30 ngày :

+ Phân NPK : 20-20-15+TE Đầu Trâu : 0,3kg/cây, chia làm 2 lần bón, mỗi lần 0,15kg/cây, cách nhau 1 tháng.

+Phân bón lá HVP (20-20-15) : pha 8 cc/ 8 lít nước,phun đều trên lá,định kỳ 7 ngày/lần

 

Bón phân cho năm thứ hai:

Phân hữu cơ sinh học HVP 401B : 3-4 kg/ cây

Phân vi lượng HVP ORGANIC : 0,3 kg/cây

Phân NPK: 0,5-1kg NPK 20-20-15-TE/cây .

+ Phân bón lá HVP (20-20-15) : pha 8 cc/ 8 lít nước,phun trên lá,định kỳ 7 ngày/lần

Bón phân cho năm thứ ba:

Phân hữu cơ sinh học HVP 401B : 3-4 kg/ cây

Phân vi lượng HVP ORGANIC : 0,3 kg/cây

Phân NPK: 1-1,5kg NPK 20-20-15-TE/cây .

+ Phân bón lá HVP (20-20-15) : pha 8 cc/ 8 lít nước,phun trên lá,định kỳ 7 ngày/lần

Bón phân cho năm thứ tư: .

Phân hữu cơ sinh học HVP 401B : 3-4 kg/ cây

Phân vi lượng HVP ORGANIC : 0,3 kg/cây

Phân NPK: 2-3 kg NPK 20-20-15-TE/cây .

+ Phân bón lá HVP (20-20-15) : pha 8 cc/ 8 lít nước,phun đều trên lá,định kỳ 7 ngày/lần

 

Lượng phân này chia làm 3 lần bón trong mùa mưa. Mùa khô bón 0,2-0,3kg phân Đầu Trâu vào lúc tưới nước. Trồng cây bơ ghép, vào mùa khô nên tưới nước cho cây trong vòng 3-4 năm đầu sau khi trồng để đảm bảo tỷ lệ cây sống và sinh trưởng của cây. Khi cây bơ đã lớn, có thể hạn chế tưới nước.

* Thời kỳ kinh doanh:

 trồng đến năm thứ tư bắt đầu cho quả khá nhiều, lúc này cây cần nhiều kali hơn

Sau khi thu hoạch :

+Hữu cơ sinh học HVP 401 B : 4 -5 kg/cây

+Phân vi lượng HVP ORGANIC : 0,5 kg/cây

+Phân NPK : 2-3 kg Đầu Trâu AT1/cây,

+ Phân bón lá HVP (22-16-12) : pha 8 cc/ 8 lít nước,phun trên lá,phun 3-4 lần,

mỗi lần cách nhau 7 ngày

.Trước khi ra hoa : (bón 1 tháng trước khi ra hoa) để tạo mầm hoa nhiều.

+ Phân NPK : 1-2kg Đầu Trâu AT2/cây

+Phân vi lượng HVP ORGANIC : 0,5 kg/cây

+ Phân bón lá HVP (15-30-15)   : pha 10g/ 8lít nước, phun đều trên lá,phun 3 lần,

mỗi lần cách nhau 7 ngày

.Khi đang nuôi quả:

+ Phân NPK : 3-5 kg Đầu Trâu AT3/cây tùy theo lượng quả nhiều hay ít

+ Phân bón lá HVP (10-20-30): pha 10g/ 8lít nước, phun đều trên lá,phun 3 lần,

mỗi lần cách nhau 7 ngày

 

Phương pháp bón phân: Bón phân khi đất đủ ẩm, đào rãnh cạn xung quanh tán cây bơ, chiếu theo mép tán, bỏ phân vào rồi lấp đất.

.     4- Vấn đề tạo tán và nuôi ong : Tiến hành từ nhỏ đối với những giống cây cao để tạo dáng cây không cao quá 6m và cành toả đều về các phía. Việc cắt xén cành khô, cành vượt cũng phải thực hiện sau mùa thu hoạch để giúp cây sinh trưởng bình thường và ngăn ngừa không cho sâu bệnh lan tràn.Bơ cũng như xoài có hiện tượng ra quả cách năm. Năm sai quả cần tỉa bớt quả để cây có đủ sức nuôi quả, quả sẽ to và chất lượng tốt.Trong vườn bơ nên đặt một số đàn ong để trợ giúp cho việc thụ phấn


5- Trồng cây chắn gió: thân cành bơ rất dòn, dễ gẫy, nên vấn đề trồng cây chắn gió rất quan trọng. Thường dùng cây dương liễu: (Casuarina equisetifolia) trồng dày cách hàng bơ bìa 6m để che gió và giúp cho đất thêm nhiều chất dinh dưỡng.

 

IV-PHÒNG TRỪSÂU BỆNH:

- Sâu cuốn lá (Gracilaria percicae Busk): bướm thường đẻ trứng trên lá mới ra, trứng nở thành sâu và lớn dần lên theo lá, nhưng thông thường nhất là sâu nhả tơ cuốn lá lại để làm tổ. Sâu dài khoảng 10mm, xanh và có những lằn ngang không rõ rệt. Trưởng thành, sâu làm nhộng trong các tổ lá, nằm yên 5-7 ngày rồi vũ hóa.

Dùng các loại thuốc trừ sâu nội hấp để phun diệt trừ. Nếu có điều kiện, trước khi phun thuốc, nên gỡ bỏ các tổ lá do sâu cuốn lại để tăng thêm hiệu lực của thuốc.

- Sâu cắn lá: có rất nhiều loài, có hai loài đã được định danh là Seirarctia echo và Feltia subterrania F. Sâu ăn trụi lá làm chết cây con và làm giảm sức tăng trưởng cây lớn. Có thể tìm thấy sâu trên lá, trên cành hoặc vỏ thân cây. Ban ngày, sâu ẩn núp dưới gốc cây, đêm đến bò ra phá hại.

- Rầy bông (Pseudococcus citri Risse): rầy thường xuất hiện vào mùa mưa, chích hút nhựa lá và đọt non, quả non làm cây giảm sức tăng trưởng.

- Bệnh thối rễ: do nấm Phytophthora cinnamoni gây ra, ở những chân đất có thuỷ cấp cao, nấm xâm nhập làm hư rễ chính (rễ cọc), sau đó nấm lan tràn phá huỷ cả bộ rễ làm cây chết rụi. Cây bị bệnh có tán lá xơ xác, lá đổi sang mầu xanh nhạt rồi rụng. Cành chết dần từ ngọn xuống thân chính. Biện pháp phòng trừ:

+ Chọn giống ghép và gốc ghép chống chịu bệnh. Không dùng hạt giống bị nhiễm bệnh và vườn ươm giống phải tuân thủ các biện pháp phòng chống bệnh phát sinh và lan tràn.

+ Trồng bơ trên các loại đất có kết cấu tơi xốp, tầng đất canh tác đủ sâu, rút nước nhanh khi mưa.

+ Tuyệt đối không dùng nước từ những vườn bơ bị bệnh để tưới.

+ Phải tẩy uế nông cụ kỹ càng.

+- Phát hiện kịp thời những vết thối trên thân, cạo sạch và quét sulfate đồng - vôi đặc. Khi cây chết vì bệnh, nên đào và huỷ bỏ để bệnh không lan tràn.

- Bệnh đốm lá (Cerocospora purpurea): bệnh hại lá và trái, nấm bệnh xuất hiện rải rác trên lá có hình dạng và kích thước gần giống nhau, hình có góc cạnh hoặc hơi tròn, mầu nâu. Những đốm này cũng có thể liên kết lại với nhau thành những mảng. Trên trái bệnh tạo nên những mụt lồi cỡ 5mm, có mầu nâu nhạt đến nâu đậm. Trái bị bệnh mất giá trị. Bệnh tồn tại trên lá già để phát tán khi có điều kiện thích hợp.

- Bệnh khô cành (Colletotrichum cloeosporiodes): nấm xâm nhập vào trên cành thường làm cành khô chết. Trên trái đã già, gần chín, nấm thường xâm nhập vào những chỗ do trái cọ sát hoặc bị thương tích hoặc do công trùng chích hút, ăn vỏ quả, làm cho trái bị nhũn (thường là ở phần cuối trái).

- Bệnh héo rũ: (Verticillium albo - atrum): cây bị nhiễm nấm thường đột nhiên bị héo lá trên một phần cây hoặc khắp cây. Lá bị chết rất nhanh, đổi thành vàng nhưng lá khó rụng. Nếu lột vỏ của cành hoặc rễ cây đã chết sẽ thấy những đường sọc mầu nâu ở phần tiếp giáp vỏ và gỗ. Sau thời gian vài tháng, mầm non phát sinh trở lại trên những nhánh chưa chết và trong vòng một hoặc hai năm, cây sẽ sống trở lại bình thường và không còn triệu chứng gì cả. Nấm tồn tại trong đất và gây bệnh cho nhiều loại thực vật ở bất cứ tuổi nào. Cây bệnh có thể chết luôn hoặc sống trở lại, đối với những cây bị bệnh một phần thì phần bệnh không thể cho trái trong vòng một hoặc hai năm. Thường áp dụng các biện pháp phòng trừ như sau:

+ Cắt xén kỹ khi cây vừa có triệu chứng bệnh, sau khi cây bị bệnh phục hồi, cắt bỏ những nhánh nhỏ, chết.

+ Không dùng cành tháp của những cây đã bị bệnh, nên dùng gốc ghép là những giống thuộc chủng Mexico.

+ Không nên xen canh hoặc luân canh bơ với các cây họ cà,...

+ Không trồng cây trên đất kém thông thoáng, ẩm thấp và úng thuỷ.

+ Dùng các thuốc hoá học phù hợp.

V. THU HOẠCH :

Cây ươm hạt bắt đầu có trái sau khi trồng được 5 hoặc 7 nămCây tháp bắt đầu cho trái bói sau khi trồng 1 đến 2 năm, nhưng không nên để quả 3 năm đầu ; năm thứ 4 chỉ để một số trái ,năm thứ 5 bắt đầu để trái. Sau trổ hoa từ 6 -12 tháng thì trái chín(tuỳ giống). Năng suất bình quân thường 8-20 tấn/ha. Thời điểm hái trái sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến phẩm chất cũng như điều kiện bảo quản, vận chuyển. Thông thường dựa vào màu sắc của da, nhưng ở Califorlia, người ta giám định hàm lượng dầu trong cơm.Trái bơ có thể bảo quản lạnh hoặc ở nhiệt độ thường. Thông thường các giống bơ có thể bảo quản lạnh ở nhiệt độ 7 độ C,

http://gianhangvn.com/hvp
Hotline: 0128 594 0804 (Đại lý CHUYÊN phân phối sản phẩm công ty)
 

KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY CA CAO


 I. Nguồn gốc và tình hình sản xuất cây ca co ở Việt Nam

Cây Ca cao (Theobroma cacao L.) có nguồn gốc ở lưu vực sông 

 

Amazon, 

Nam Mỹ. Từ đây, ca cao phát triển sang các nước khác ở vùng Trung và Nam Mỹ.

Ở Việt Nam, tính đến tháng 05 năm 2010 diện tích cây ca cao trên cả nước khoảng 12.300ha, phần lớn trồng xen trong các vườn dừa, vườn cây ăn trái ở Đồng bằng sông Cửu Long; trồng trong các vườn cây công nghiệp ở vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên.  Theo Hiệp hội cà phê - ca cao Việt 

Nam, hiện nhu cầu chế biến và tiêu thụ ca cao của thế giới tăng từ 3-4%/năm (tương đương 100.000-120.000 tấn). Hiện nay, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho phép các cơ quan chuyên ngành tiến hành xây dựng quy hoạch trồng ca cao trên cả nước, phấn đấu đến năm 2015 đạt 60.000ha và đến năm 2020 đạt 80.000ha, trong đó có 60.000ha kinh doanh, đạt năng suất bình quân 18 tạ/ha, sản lượng khô 108.000 tấn, hạt ca cao xuất khẩu đạt 86.000 tấn/năm và kim ngạch xuất khẩu đạt 100-120 triệu USD/ năm.

II. Đặc điểm chung và yêu cầu ngoại cảnh

Cây ca cao thích hợp với khí hậu nhiệt đới nóng ẩm mưa nhiều. Thích hợp với nhiệt độ trung bình 25oC, độ ẩm 85%, lượng mưa bình quân trên 1500 mm/năm. Ca cao là cây ưa ánh sáng tán xạ (50-60% cường độ ánh sáng tự nhiên) nên thích hợp trồng dưới tán cây ăn trái hoặc cây che bóng.

Cây ca cao thích hợp với nhiều loại đất khác nhau: đất đỏ, đất xám, đất phù sa cổ, song thích hợp nhất với đất có thành phần cơ giới trung bình đến nhẹ, pH từ 5,5- 5,8, tầng canh tác dày 1-1,5 m, dễ thoát nước, có khả năng giữ nước cao, giàu chất hữu cơ. Tuy nhiên bằng biện pháp canh tác (bón vôi, bón phân hữu cơ…) có thể giúp cây ca cao đạt năng suất cao trên vùng đất kém mầu mỡ.

Nhu cầu dinh dưỡng của cây ca cao: Cây ca cao là cây hút nhiều dinh dưỡng, trong đó kali cao nhất. Ngoài dinh dưỡng đa lượng, ca cao có nhu cầu khá cao về trung, vi lượng. Nhu cầu dinh dưỡng của cây tăng theo tuổi cây và mức năng suất. Ca cao thu bói có nhu cầu dinh dưỡng cao hơn cây kiến thiết cơ bản và cây trong vườn ươm. Ca cao kinh doanh có nhu cầu dinh dưỡng cao hơn so với ca cao mới thu bói (bảng 1).

 

Theo Ebon (1987), lượng phân trong hai năm đầu tiên được khuyến cáo theo như sau: (bảng 2)

Bảng 2: Lượng dinh dưỡng cho ca cao mới trồng

Tháng sau khi trồng

Lượng dinh dưỡng cho mỗi cây (g)

N

P2O5

K2O

1

6,4

6,4

6,4

4

8,5

8,5

8,5

8

8,5

8,5

8,5

12

12,8

12,8

12,8

18

17,0

17,0

17,0

24

27,3

27,3

38.5

 

Triệu chứng thiếu hụt dinh dưỡng ở cây ca cao - Thiếu đạm: lá có màu xanh vàng hay xanh nõn chuối. Thiếu nặng lá rụng nhiều, năng suất giảm. Hiện tượng thiếu đạm thường xảy ra trên đất nghèo dinh dưỡng và bón không đủ lượng đạm cây cần. - Thiếu lân: lá chuyển màu xỉn, mép lá non ửng đỏ, thiếu nặng lá rụng và cành chết. - Thiếu kali: Mép lá chuyển màu vàng cam sau tới màu xám nâu và khô, lá rụng nhiều. - Thiếu magiê: phần thịt lá bị vàng và lan dần từ gân chính ra mép lá. - Thiếu canxi: lá héo vàng từ rìa lá sau lan vào gân chính. - Thiếu kẽm: các lá và chồi đầu cành không phát triển tốt (rụt đọt), lá không thể nở lớn. Hiện tượng thiếu kẽm cũng khá phổ biến trên các vùng ca cao nổi tiếng của thế giới.

III. Kỹ thuật trồng và chăm soc cây ca cao

III.1 Kỹ thuật trồng ca cao

Thời vụ trồng ca cao: tùy theo điều kiện thời tiết khí hậu mà chọn cho phù hợp, tốt nhất nên trồng vào đầu mùa mưa. Trên đất tốt mật độ trồng 3x3m, trên đất kém mầu mỡ khoảng cánh trồng 3x2,5m. Trước khi trồng chuẩn bị hố có kích thước 50x50x50cm, khi đào hố, lớp đất mặt và đất sâu để riêng. Tốt nhất nên chuẩn bị hố trồng trước 2 tuần. Đất trồng ca cao cần chọn loại đất có tầng canh tác dầy, có mực nước ngầm sâu và có thể thoát nước tốt, tránh nước đọng khi mưa. Làm đất kỹ, đảm bảo đất tơi xốp. Sau khi đào hố theo mật độ cần thiết cần bón lót phân chuồng hoai, vôi bột, phân lân (super lân, lân nung chảy), phân hữu cơ sinh học HVP 401 H hoặc HVP 401 B, kết hợp xử lý mối bằng thuốc Confidor hay Admire với nồng độ 0,1-0,2% phun đều dưới hố và thành hố vài ngày trước khi trồng. Khi trồng ca cao cần moi đất ở giữa hố, đặt bầu và dùng dao sắc rạch bầu, tránh làm vỡ bầu. Ca cao là cây không chịu được nước đọng nên khi trồng phải đặt mặt bầu ngang với mặt đất. Sau trồng 1 tháng cần phun thuốc trừ mối lần 2 bằng thuốc Confidor hay Admire. Nên phun thuốc xung quanh hố và toàn bộ cây.

III. 2 Bón phân cho cây ca cao

Qui trình bón phân cho cây ca cao: Cây ca cao cần được cung cấp đầy đủ các nguyên tố đa, trung và vi lượng. Thiếu hoặc thừa một trong những yếu tố này đều ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển không bình thường của cây.

* Bón phân cho ca cao trong vườn ươm: - Bón lót 50 kg phân hữu cơ sinh học HVP 401 H hoặc HVP 401 B cho mỗi 1000 m2 liếp ương hoặc 2 m3 đất làm bầu trước khi gieo hạt. - Bón thúc bằng cách hòa tan 20-30 gam phân NPK-20-20-15 trong 10 lít nước, tưới định kỳ 2-3 tuần/lần. Phun phân bón lá HVP 1601.WP 30.10.10 định kỳ 7-10 ngày/lần.

* Bón phân cho ca cao kiến thiết cơ bản: - Bón lót cho mỗi hố 7 - 10 kg phân chuồng hoai + 0,5 kg vôi bột và 0,5 kg phân lân (super lân, lân nung chảy) + 2kg phân hữu cơ sinh học HVP 401 H hoặc HVP 401 B + 200g Vi lượng HVP Oganic/cây trước trồng 10-15 ngày - Bón thúc: Ca cao kiến thiết cơ bản cần nhiều đạm, lân, một ít kali và trung vi lượng để cây phát triển bộ rễ, thân lá. Phân bón cho cây ca cao trong giai đoạn kiến thiết cơ bản là các loại phân NPK-20-20-15 hoặc 16-16-8, lượng bón tuỳ theo tuổi cây như sau: Năm thứ nhất: 0,2-0,3kg/cây. Năm thứ hai: 0,5-0,6kg/cây Năm thứ ba: 0,6-0,8kg/cây. Lượng phân này chia làm 4 đợt vào đầu, giữa, cuối mùa mưa và 1 lần trong mùa khô. Cần phun các chế phẩm phân bón lá để giúp cây ca cao phục hồi nhanh ngay sau khi trồng và phát triển tôt để rút ngắn thời gian kiến thiết cơ bản. Cơ thể sử dụng các sản phẩm phân bón lá HVP theo quy trình như sau: Sau khi trồng 7 ngày tưới gốc 1 lần HVP 6-6-4 K-HUMAT kích thích ra rễ mạnh đễ hấp thu nhiều dinh dưỡng. Kết hợp sử dụng HVP 1601 WP (21-21-21) phun lên lá định kỳ 7 ngày/1 lần.

Bón phân cho cây ca cao kinh doanh:

Phân hữu cơ: Bón cho mỗi cây 7 - 10 kg phân chuồng hoai + 0,5 kg phân lân (super lân, lân nung chảy) + 2 kg phân hữu cơ sinh học HVP 401 B + 100g Vi lượng HVP Oganic/cây lượng phân trên chia làm hai lần bón đầu và cuối mùa mưa.

Vôi bột: bón 300-400 kg/ha/năm, rải tung đều khắp mặt đất, tiếp xúc với đất càng nhiều càng tốt, không cần lấp đất.

Phân hóa học: Lượng phân bón cho cây ca cao trong thời kỳ kinh doanh như sau: phân trộn NPK gồm phân Urê, Super lân, KCl với tỉ lệ 1 – 3 – 2 (dạng phân thương mại) với lượng bón từ 1,5 – 2kg/cây/năm + lượng phân trên chia ra bón làm 3 lần vào đầu, giữa và cuối mùa mưa. Do đặc điểm bộ rễ cây ca cao ăn nông (80% rễ tập trung ở tầng 0-30 cm) nên cần bón phân trong lớp đất mặt. Bón phân bằng cách theo đường chiếu của vành tán rồi vùi lấp để giảm bớt thất thoát do bay hơi, rửa trôi.

- Phân bón lá: do đặc điểm ra hoa kết quả xen kẽ liên tục quanh năm của cây ca cao nên cây cần được bổ sung dinh dưỡng kịp thời để hạn chế hiện tượng héo trái non do sinh lý. Sau khi cây ra hoa rộ và đậu trái non xong sử dụngHVP – 1001.S ( 6.20.20) phun lên lá 2 lần cách nhau 14 ngày/lân. Xen kẽ giữa hai lần phun HVP – 1001.S ( 6.20.20) ta sữ dụng HVP Giàu Canxi + Giàu Bo + Giàu Lân + Giàu Manhê để chống rụng trái non. Sau đó sử dụng HVP 6.30.30 – SIÊU TO HẠT phun định kỳ 10 ngày 1 lần đến khi thu hoạch trái.

III.3. Kỹ thuật tưới nước

Nguồn nước tưới có thể từ sông hồ hay nước giếng không bị nhiễm mặn hay phèn. Tưới theo hàng hay tưới từng cây nhưng không nên tưới giữa lúc trời nắng gắt. Khi cây còn nhỏ tránh để vòi nước phun thẳng vào cây vì có thể gây đổ ngã. Nên tưới bằng hệ thống tưới nhỏ giọt: tưới nhỏ giọt nước thấm từ từ vào đất, đi ngay vào hệ thống rễ, không phí nước vào vùng không có sự sinh trưởng.

3.4 Kỹ thuật tủ gốc cho cây ca cao 

Tủ gốc là biện pháp tốt để giữ ẩm độ đất ổn định, duy trì sự hoạt động hữu hiệu của tầng rễ ngang sát mặt đất, giảm số lần tưới và tránh cỏ mọc vào mùa khô. Vào mùa mưa lớp hữu cơ phủ gốc làm hạn chế đất văng do mưa rơi, hạn chế sự phát tán mầm bệnh nằm trong đất. Khi lớp phủ hoai mục sẽ trở thành nguồn dinh dưỡng cho cây và cải tạo lý tính đất theo hướng có lợi.

III.4 Tỉa cành tạo tán 

Nguyên lý chung của việc tỉa cành tạo tán là: 

- Điều chỉnh cây phát triển cân đối, cành vươn đều mọi hướng để nhận được ánh sáng nhiều nhất.

- Tán lá phải tỏa kín không gian dành riêng cho từng cây và không có những lỗ hổng trong tán cây.

- Dưới tán lá phải thông thoáng để giảm thiểu sâu bệnh.

- Chiều cao cây hợp lý để dễ chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh và thu hoạch.

 

III.5 Một số tác nhân gây hại chính trên cây ca cao và biện pháp phòng trừ 

Các tác nhân gây hại chính và biện pháp phòng trừ như sau:

  1. Bọ xít muỗi (Helopeltis spp.)

Triệu chứng và tác hại: Chích hút nhựa trái, chồi non, cành non. Các vết chích bị thâm đen, trái non bị chích thường héo khô, trái lớn bị chích có nhiều vết thâm phát triển dị dạng, ít hạt và có nhiều nguy cơ bị nấm hại xâm nhập.

Biện pháp phòng trừ: Vệ sinh vườn sạch sẽ, tỉa bớt cành nhánh không cần thiết. Có thể phun các loại thuốc như: Fenobucarb ( Bassa, Bascide, Bassan), Diazinon (Basudin, Vibisu), Dimethoate (Bi 58, Bian, Dithoate). Phun thuốc vào sáng sớm lúc côn trùng di chuyển chậm chạp. Ngoài ra, bọ xít muỗi có thể phòng trị rất hữu hiệu bằng cách nuôi kiến đen loài Dolichoderus thoracicus trong vườn ca cao.

  1. Sâu hồng (Zeuzera sp.)

Triệu chứng và tác hại: Sâu thường đục vào phần ngọn thân và các cành rồi đùn phân và mạt cưa ra ngoài miệng lỗ đục và rơi xuống đất. Những cành ca cao bị đục sẽ bị héo rồi chết khô.

Biện pháp phòng trừ: Thường xuyên thăm vườn để phát hiện sớm, sau đó cắt bỏ các cành bị hại và đốt để diệt sâu nằm bên trong thân. Ngoài ra, có các loại thuốc được sử dụng như Cartap (Mapan, Padan, Vicarp), Fipronil (Regent, Brigant) hoặc Cypermethrin (Carmethrin, Cyper, Sherpa, Alpha Cypermethrin) xịt vào nơi sâu thích đục lỗ như đầu cành non, chồi non. Có thể pha loãng thuốc bơm vào lỗ đục.

  1. Bọ cánh cứng hại lá (Adoretus spp, Apogonia spp): Bọ cánh cứng ăn lá ca cao thuộc nhiều loại khác nhau như bọ nâu, bọ xám, bọ hung kim.

Triệu chứng và tác hại: chủ yếu là phá hoại vào ban đêm, ban ngày trú ngụ nơi tối hay dưới đất. Bọ ăn lá tạo những lỗ khuyết trên lá làm giảm diện tích quang hợp. Với ca cao trưởng thành sự tác hại không đáng kể nhưng cây con và cây trong giai đoạn vườn ươm ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng và phát triển.

Biện pháp phòng trừ: Phun lá với các loại thuốc vị độc hoặc tiếp xúc như Carbary (Sevin, Carbavin, Sebaryl), Cypermethrin (Sherpa, Cyper, Carmethrin), Dimethoate (Bi 58, Bian, Dithoate) hoặc trộn vào đất thuốc Diazinon (Basudin, Vibasu) hạt theo nồng độ khuyến cáo của nhà sản xuất.

  1. Chuột và sóc: Chuột và sóc thích ăn lớp cơm ngọt bao quanh hạt ca cao. Thường chúng cắn phá qua ca cao bằng cách khoét lỗ để moi hạt. Khi chuột và sóc gây hại nặng cần phải tổ chức diệt trừ bằng cách dùng bả độc hoặc gài bẫy. 
  2. Bệnh thối trái, loét thân, cháy lá (Phytophthora palmivora): Đây là bệnh chính trên ca cao, bệnh xuất hiện ở mọi nơi, mọi bộ phận, qua mọi giai đoạn trong quá trình sinh trưởng từ vườn ươm cho đến khi thu hoạch. Bệnh phát triển mạnh vào mùa mưa, trong môi trường có ẩm độ cao.

Biện pháp phòng trừ:

- Sử dụng giống kháng.

- Hái bỏ ngay trái bệnh đem chôn

- Tỉa cành hợp lý tạo thông thoáng

- Điều chỉnh mật độ cây che bóng thích hợp

- Sử dụng thuốc. Dùng thuốc gốc đồng (Champion, Kocide, Coc 85) hoặc Metalaxyl phun định kỳ để phòng. Khi xuất hiện triệu chứng bệnh nên phun Fosetyl-Al (Aliette, Alpine, Fungal) hoặc Metalaxyl (Ridomil, Mataxyl, Rampart).

IV. Thu hoạch ca cao

Chất lượng hạt ca cao chủ yếu phụ thuộc vào 3 yếu tố: giống, kỹ thuật chăm sóc và cách thu hái bảo quản. Nên chỉ thu hoạch những quả đã chín, không thu quả xanh. Sau khi thu hoạch cần chế biến ngay không được để quá 4 ngày (dùng dao, kéo cắt cành để cắt cuống quả khi thu hoạch). Dùng 1 đoạn gỗ để đập vỏ quả lấy hạt đem đi cho lên men.

Các tin khác