Giỏ hàng của bạn

Số sản phẩm: 0

Thành tiền: 0

Xem giỏ hàng

Thống kê

Đang online 42
Hôm nay 118
Hôm qua 142
Trong tuần 399
Trong tháng 2,009
Tổng cộng 70,549

“VUA NẤM” ĐẤT SÀI THÀNH NGÀY ẤY, BÂY GIỜ.../ CÁC DẠNG PHÂN BÓN TRÊN THỊ TRƯỜNG - LƯU Ý KHI SỬ DỤNG PHÂN BÓN NHẰM TRÁNH PHÂN BÓN GIẢ, PHÂN BÓN KÉM CHẤT LƯỢNG

27-12-2016

Nông dân dễ bị mua phải phân Ka-li giả do trên thị trường có các loại phân NKS, KNS, NPK… một số nhà sản xuất cố tình làm rất giống phân Clo-rua Ka-li về mặt hình thức, nhất là màu đỏ đặc trưng của Kali, nhưng thực chất chỉ có từ 10-30 % là Ô-xit Ka-li, còn lại là phân SA, muối ăn, phẩm màu, bột sét đỏ. ...Để đưa được các chất dinh dưỡng vào cây, các đầu lông hút của rễ cây phải tiết ra dịch, dịch cây là các axit yếu chuyển hóa các chất dinh dưỡng chậm tan, khó tan thành chất dinh dưỡng dễ tan,

“VUA NẤM” ĐẤT SÀI THÀNH NGÀY ẤY, BÂY GIỜ...

 

(Dân Việt) Không còn vẻ nhanh nhẹn của một lão nông ưa hoạt động, “Vua nấm” Bảy Yết bây giờ nhìn khá ốm yếu sau cơn bạo bệnh tưởng như đã quật ngã ông - cơn bạo bệnh mà người đời vốn gọi là “sinh nghề tử nghiệp”, thế nhưng ông thực sự mãn nguyện khi ước mơ suốt cuộc đời ông đã thực hiện được ở tuổi xế chiều - trở thành thầy giáo.

 

Thời chật vật của “vua nấm”

 

Câu chuyện về “Vua nấm” Bảy Yết không lạ với người dân TP.HCM, càng không lạ với người dân trồng nấm cả nước bởi ông là người đầu tiên trồng thành công nấm bào ngư tại Việt Nam và cũng là người đầu tiên nỗ lực đưa loại nấm này lên bàn ăn của người Việt thông qua hệ thống siêu thị Co.op Mart. Thế nhưng, khi được chúng tôi gợi nhớ về thời “hoàng kim” - thời ông nổi tiếng khắp xa gần với biệt danh “Vua nấm”, lão nông Bảy Yết vội cắt lời, giọng nhẹ nhàng nhưng cũng không kém phần chua xót: “Chú đừng gọi tôi là vua nấm. Có vua nào mà bị “thần tử” của mình quật ngã đau như tôi không (rồi ông cười). Vậy mà chẳng bỏ được nó chú ạ, có lẽ sẽ theo tôi đến cuối đời. Thôi thì cứ xem là một duyên nợ vậy...”.

 

 “vua nam” dat sai thanh ngay ay, bay gio... hinh anh 1

Ông Bảy Yến trong trang trại nấm nhà mình. Ảnh: Q.H

Với quy mô hiện tại, thu nhập của “vua nấm” Bảy Yết chỉ còn khoảng 1-1,5 tỷ đồng/năm. Dù vậy, cũng không thể phủ nhận công lao “truyền nghề” của ông đối với người nông dân các tỉnh, thành phía Nam khi ông từng được tặng thưởng Kỷ niệm chương “Vì giai cấp nông dân”, được Chính phủ tặng bằng khen và được tuyên dương “Nông dân điển hình tiên tiến toàn quốc”.

 

 

“Vua nấm” Bảy Yết có tên gọi đầy đủ là Phan Văn Yết (sinh năm 1952), ngụ ấp Nhị Tân 1, xã Tân Thới Nhì, huyện Hóc Môn (TP.HCM). Cách đây 30 năm, gia đình ông thuộc diện hộ nghèo của xã. Cả nhà 5 miệng ăn mà chỉ có vài công ruộng trồng lúa. “Bấy giờ ở trong vùng rộ lên phong trào trồng nấm rơm, nấm mèo (mộc nhĩ),  tôi liền bàn với vợ đi vay mượn, cộng với tiền tích cóp trong nhà được mấy chỉ vàng để chuyển sang nghề trồng nấm”-ông kể.

 

Vốn có kiến thức trồng nấm được học tại ĐH Tổng hợp Sài Gòn, cùng với niềm đam mê học hỏi, việc trồng nấm rơm, nấm mèo với Bảy Yết... dễ hơn ăn cháo. Thế nhưng, vì khó khăn trong việc tìm đầu ra cho sản phẩm nên vốn liếng dần dần “đội nón ra đi”... Đó là khoảng thời gian những năm 1984, 1985.

 

Đầu năm 1987, cuộc gặp gỡ với người bạn thời đại học cũ Lê Duy Thắng, lúc bấy giờ đang là giảng viên khoa Sinh học - ĐH Khoa học Tự nhiên TP.HCM, đã khiến cuộc đời ông Bảy Yết bước sang trang mới. Sau khi biết hoàn cảnh và niềm đam mê nấm của ông, ông Thắng gửi cho ông 2 ống nghiệm chứa phôi nấm bào ngư nhờ trồng thử. Ông Thắng còn cho ông mượn 5 triệu đồng để dựng trại, xây lò sản xuất bịch phôi nấm. Thế là với kiến thức tích lũy được cùng sự chỉ dẫn của bạn, từ 2 ống nghiệm, Bảy Yết nhân ra được hơn 10.000 cây nấm bào ngư. Ngày ngày chăm bẵm cẩn thận, non 3 tháng sau, ông và gia đình bắt đầu hái nấm. Lứa nấm thử nghiệm đó, do chưa có kinh nghiệm nên hư hại quá nửa, vừa đủ thu hồi vốn. Từ đó, mỗi năm ông càng hoàn thiện kỹ thuật trồng nấm bào ngư. Đến năm 2000, ông lại mạnh dạn mua phôi nấm linh chi về trồng rồi tự nhân giống.

 

Thời hoàng kim và “cú giò lái” của... nấm

 

“Trong suốt hơn 30 năm trồng nấm, khó khăn lớn nhất của ông gặp phải là gì?” - tôi hỏi. Lão nông Bảy Yết trả lời chẳng một chút ngần ngừ: “Đầu ra”. Là người tiên phong trong trồng nấm bào ngư, cái khó nhất là đưa sản phẩm đến người tiêu dùng. Lúc đó, để nấm vào được Co.op Mart, ông phải đem sản phẩm đến Sở Y tế và Viện Pasteur kiểm định chất lượng 3 tháng/lần. Tuy vậy, Coop Mart cũng chỉ nhận ký gửi, sau 5 ngày bán không được phải lên lấy nấm về vì hết hạn sử dụng. Song cũng nhờ vào được Co.op Mart mà sản phẩm dần xuất hiện trên bàn ăn của nhiều gia đình, hàng quán.

 

Nhờ kiên trì, những công sức bỏ ra của lão nông Bảy Yết đã mang lại trái ngọt. Trong giai đoạn từ 2003 - 2010, mỗi ngày ông cung ứng cho thị trường 4 - 5 tấn nấm bào ngư, riêng nấm mèo và linh chi mỗi năm chỉ trồng một lứa nên luôn “cháy hàng”. Các khách hàng Nhật, Đài Loan, các công ty chế biến thực phẩm và hơn 10 siêu thị luôn “réo gọi” ông tăng quy mô sản xuất. Để đáp ứng nhu cầu thị trường, Bảy Yết đã chú trọng truyền nghề cho nhiều nông dân muốn trồng nấm để vừa giúp nông dân thoát nghèo, vừa bao tiêu sản phẩm, đáp ứng thị trường.

 

“Thời gian đó có ai nhờ, thậm chí dù họ có ở các tỉnh như Long An, An Giang, Vĩnh Long,... mời tôi đều đi đến tận nơi khảo sát, hướng dẫn xây trại, kỹ thuật trồng. Thậm chí tôi sẵn sàng hỗ trợ 50% chi phí cho những hộ có hoàn cảnh khó khăn và bao tiêu toàn bộ sản phẩm với giá ổn định”-ông nhớ lại.

Lý do ông Bảy Yết làm các việc này chỉ đơn giản: “Tôi từng nghèo “rớt mồng tơi” nên rất thấu hiểu cái khổ của người muốn thoát nghèo nhưng lại không biết bắt đầu từ đâu? Nghề trồng nấm theo tôi là một lựa chọn không tồi bởi lợi nhuận khá. Có thể thu được lợi nhuận khoảng 400 triệu đồng/1.000m2 /năm – một khoản tiền không nhỏ vào những năm 2003, 2004...

 

Thời huy hoàng ấy đã mang lại thu nhập cho “Vua nấm” mỗi năm từ 2 - 3 tỷ đồng từ sản phẩm nấm bào ngư, nấm linh chi, nấm mèo. Chưa kể nguồn thu nhập mang lại từ số lượng 20.000 bịch phôi nấm/ngày được hơn 50 lao động của trại nấm Bảy Yết sản xuất và bán ra thị trường.

 

Thế rồi, đang trên đỉnh cao của sự nghiệp, năm 2012 ông bất ngờ bị bệnh phổi nặng. Tại bệnh viện, các bác sĩ phát hiện trong phổi ông có khá nhiều bào tử nấm bào ngư ký sinh và phát triển. Ước mơ về một làng nấm dường như bị đứt đoạn...

 

Thầy giáo về “nấm” đất Sài thành

 

Lão nông Bảy Yết cười nhẹ nhàng: “Có khi cơn bệnh đến lại hay chú ạ! Hồi xưa tôi cũng muốn trở thành nhà giáo, nhưng vì gánh nặng cơm áo gạo tiền nên không thể. Bây giờ tuy không có chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm gì, nhưng học trò của tôi đông lắm. Hồi xưa ai cũng gọi là “Vua nấm”, vui thì có vui, tự hào cũng có, nhưng lại không có cái cảm giác thân thương như bây giờ khi học trò là những cô cậu sinh viên gọi bằng tiếng “thầy Bảy” .

 

Câu chuyện chốc chốc lại gián đoạn khi thì các sinh viên chạy lại hỏi về kỹ thuật, kỹ năng chăm sóc nấm. Hồi ông chưa bệnh mỗi năm cũng có khoảng chục sinh viên đến trại nấm xin thực tập. Từ thời bị bệnh, ông Bảy Yết có thời gian rảnh rỗi hơn nên mỗi năm có hàng chục sinh viên các trường ĐH đến học và thực hành khóa luận tốt nghiệp. “Bây giờ phần lớn thời gian tôi dành để truyền nghề cho sinh viên, cho bà con nông dân muốn học nghề. Còn trang trại nấm thì giao hẳn cho vợ và 2 con…”- ông Yết nói.

 

Tuy nhiên, con trai của lão nông Bảy Yết thì...“bán đứng” bố mình. “Bố tôi ổng nói vậy thôi, tuy bây giờ quy mô trồng nấm của gia đình không bằng trước, khi sản lượng nấm bào ngư cung ứng thị trường chỉ khoảng gần 20 tấn/năm, nấm linh chi thì chỉ còn khoảng 1 tấn/năm nhưng ngày nào bố tôi chẳng ra vào mấy nhà nấm để xem xét, có bỏ được đâu”- anh cười nói. 

 

http://gianhangvn.com/hvp
Hotline: 0128 594 0804 (Đại lý CHUYÊN phân phối sản phẩm công ty)
 

Tôi sử dụng phân bón Văn Điển thấy rất tốt, nhưng tại sao sau 2 tháng bới gốc cây ra vẫn còn hạt phân chưa tan?

 

Trả lời: Khi hấp thụ các chất dinh dưỡng, đầu lông mút của dễ cây luôn luôn tiết ra dịch axit chua có nồng độ tương đương 2% (axit xitric, axitmalic…) có khả năng hòa tan chuyển hóa các chất dinh dưỡng vô cơ hoặc hữu cơ ở trong đất thành dễ tan cây trồng hấp thụ dễ dàng.

 

Quá trình hấp thụ, vận chuyển chất khoáng, cây trồng liên tục thu nhận các chất dinh dưỡng từ đất bao gồm vô cơ và hữu cơ dưới dạng ion hoặc liên kết dạng ion như nitơ N - NH4+, N - NO3-, phốt phát dạng HPO4-2 hoặc H2PO4-, lưu huỳnh dạng sunphat cacbon dạng HCO3, K, Mg, Cu… Các ion có thể liên kết trong keo đất hoặc ở dạng chậm tan.

 

Các loại phân bón tan nhanh khi được bón vào đất gặp nước sẽ hòa tan phân tán thành các ion: Một phần bị rửa trôi theo địa hình dốc, rửa trôi xuống lớp đất sâu qua tầng rễ tơ của cây làm cho cây trồng không hấp thụ được, phần nữa bị sắt nhôm di động trong đất giữ chặt ở dạng kết tủa và một phần bị bay hơi, số còn lại mới được cây hấp thụ.

 

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, chỉ có khoảng 35 - 45% dinh dưỡng được cây trồng sử dụng số còn lại bị thất thoát. Vì vậy, các loại phân bón tan nhanh thường phải bón nhiều đợt trong một vụ mới đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng của cây, dẫn đến tăng chi phí, giảm hiệu quả kinh tế, gây ô nhiễm môi trường.

 

Hỏi: Tại sao phải bón vôi?

Trả lời: Canxi (CaO) còn gọi là vôi được xếp vào nhóm các yếu tố dinh dưỡng trung lượng, là một trong 16 nguyên tố dinh dưỡng chủ yếu của cây trồng. Tất cả các loại đất trồng trọt ở nước ta hầu hết là đất chua (trừ một diện tích nhỏ là đất phù sa ven sông). Do quá trình phong hóa từ đá mẹ chua mà hình thành nên các loại đất cộng với điều kiện khí hậu nhiệt đới có lượng mưa lớn hàng năm nên chất canxi (vôi) trong đất luôn luôn bị rửa trôi khiến hàm lượng vôi trong đất thấp dần, độ pH cũng giảm theo hầu hết là dưới 4,5 thậm chí pH dưới 4,0.

 

Bên cạnh đó, hàng vụ nhiều tàn dư về thân lá dễ tươi của cây trồng sau thu hoạch để lại trong đất cũng như sử dụng các loại phân bón chua đã góp phần làm cho đất chua thiếu hụt vôi một cách nghiêm trọng. Trong khi, môi trường thích hợp nhất cho cây trồng phát triển hầu hết ở ngưỡng pH từ 5,5 - 6,5 (trừ cây chè xanh).

 

Hỏi: Những cây trồng nào khi trồng phải bón vôi?

Trả lời: Tất cả các loại cây đều cần phải được bón vôi khi trồng để khử độc vùng đất quanh rễ, nâng độ pH của đất. Khi độ pH được cải thiện, chất chua, chất độc trong đất giảm bộ rễ cây non có điều kiện phát triển thuận lợi khả năng hút nước và các chất dinh dưỡng của bộ rễ tăng lên, cây khỏe mạnh phát triển nhanh. Mặt khác, cây trồng cũng cần lượng canxi nhất định, canxi tham gia vào các quá trình sinh hóa học trong cây để tổng hợp dinh dưỡng, đồng thời canxi còn làm giảm tác hại của việc bón thừa đạm đối với cây trồng. Nhiều loại cây, canxi còn tham gia vào quá trình tích lũy vào các bộ phận quả hạt. Để phát huy tốt tính năng của vôi, nên bón vôi sớm trước khi trồng tốt nhất là 1 - 2 tuần, riêng đối với lúa nên bón vôi vào lúc làm đất trước khi gieo cấy. Hỏi: Vôi sinh ra từ đâu? Trả lời: Vôi có từ đá vôi, vỏ sò, vỏ ốc, vỏ san hô nhưng cần phải nung kỹ để chuyển hóa canxi tạo thành ốc xít canxi (CaO) còn gọi là vôi mới bón được. Nếu chỉ nghiền sống, vỏ sò, vỏ ốc, vỏ san hô, đá vôi không có hiệu quả đối với đất và cây trồng. Các dạng vật liệu như dolomit, thạch cao nếu dùng để bón cũng không có hiệu quả.

 

Hỏi: Có thể thay thế vôi bằng cách khác được không?

Trả lời: Các loại phân bón Văn Điển gồm lân Văn Điển và phân đa yếu tố NPK Văn Điển đều chứa lượng vôi rất cao. Lân Văn Điển chứa hàm lượng vôi đến 30%, bón 10kg lân Văn Điển có đến 3,3kg vôi hoặc dùng phân đa yếu tố NPK Văn Điển lượng vôi cũng chứa từ 5 - 15% tùy theo từng loại. Như vậy, sử dụng phân lân Văn Điển phân đa yếu tố NPK Văn Điển hoàn toàn thay thế việc sử dụng vôi cho cây trồng mà không phải dùng các loại vật liệu chứa vôi khác.

 

+ Bón vôi bột tuy giúp cải tạo độ pH của đất, nhưng lại có nhược điểm làm xác đất, giết chết một số vi sinh vật có lợi. Ví dụ dễ hình dung nhất việc làm xác đất của vôi chính là xung quanh miệng các hố tôi vôi.

 

+ Lân Văn Điển, NPK Văn Điển là phân tính kiềm, độ pH 8 - 8,5 do chứa hàm lượng canxi, manhe rất cao nên ngoài việc nâng độ pH còn cải tạo đất chua, nhưng tuyệt đối không làm xác đất, đồng thời cung cấp cân đối dinh dưỡng trung, vi lượng cho cây trồng.

 

+ Sử dụng phân bón Văn Điển cùng một lúc cung cấp cho cây trồng đầy đủ tất cả các yếu tố dinh dưỡng từ đa lượng trung lượng vi lượng, cây trồng phát triển khỏe lá dày xanh sáng bóng thân cành phát triển cân đối, sức chống chịu với điều kiện ngoại cảnh cao ít đổ ngã chịu hạn chịu úng tốt, ít nhiễm các loại sâu bệnh gây hại cho năng suất cao chất lượng tốt, cân bằng lại dinh dưỡng trong đất làm cho đất ngày càng mầu mỡ.

 

KS NGUYỄN XUÂN THỰ

Hotline: 01203894001 / 01285940804 (Đại lý CHUYÊN phân phối sản phẩm công ty)
 

CÁC DẠNG PHÂN BÓN TRÊN THỊ TRƯỜNG

Chúng ta thử tìm hiểu các dạng phân bón thường thấy trên thị trường hiện nay.

1. Phân bón dạng bột: Phân trộn cơ giới dưới dạng bột là dạng phân phổ biến vì dễ áp dụng, có thể sản xuất trong các xưởng sản xuất nhỏ, dễ dàng thay đổi thành phần phối trộn cho hợp với cây trồng và đất đai, thiết bị công nghệ đơn giản nên chi phí sản xuất thấp. Tuy nhiên, trong quá trình phối trộn và bảo quản thường hay gặp một số trường hợp bất lợi:

 

Hiện tượng chảy nước khi trộn, phân đơn ở dạng nitrat ure, rễ hút ẩm và chảy nước, đem trộn với các loại phân khác tính hút ẩm và chảy nước lại tăng lên. Khi phân nhão ra và mất nước thì đóng cục lại. Vậy khi đưa các thành phần vào để phối trộn, cần phải có sự lựa chọn tốt.

 

Thí dụ: Để có đạm trong phân không dùng dạng phân nitrat hay urê mà dùng amôn sunfat, phân DAP hay dùng amôniac nước hoặc amôniac khan để amôn hoá supe lân. Nơi phối trộn cần có dụng cụ hút ẩm, quạt thông gió và giữ nhiệt độ không quá cao. Phối trộn thêm vào các thành phần phân khoảng 5% các nguyên liệu như xơ dừa khô nghiền nhỏ, than bùn sấy khô, bột tảo silic và bột giấy vụn.

 

Ngoài ra, trong quá trình phối trộn và bảo quản nó còn xảy ra hiện tượng tách các hạt phân. Các hạt phân thường có kích thước và tỉ trọng không đều, do vậy quá trình vận chuyển và bốc dỡ các hạt có kích thước và tỉ trọng lớn hơn lắng xuống dưới làm cho phân không đều. Để khắc phục hiện tượng này, khi chế biến phân cần đảm bảo các hạt phân được đồng đều. Cho thêm dầu với lượng thích hợp. Tăng tỉ lệ bột xenlulozơ, than bùn để tăng tính kết dính các hạt phân quá nhỏ làm cho hạt phân ít di chuyển.

 

Bên cạnh đó còn xảy ra hiện tượng phản ứng hóa học giữa các thành phần trộn.

 

–          Sự bay hơi NH3 làm hàm lượng đạm giảm xuống. Nguyên nhân là do khi trộn nitrat amôn, clorua amôn, sunfat amôn với bột đá vôi hay các loại phân kiềm, khi trộn phân urê với than bùn hoặc phân hữu chưa tiệt trùng. Lượng đạm bị mất khá lớn trong suốt thời gian bảo quản.

–          Sự phản hiđrat hóa. Khi trộn, các chất trong phân ngầm thêm một số phân tử nước, các phân tử nước đó bị giữ khá chặt, khó sấy khô làm cho trọng lượng phân tăng lên nhưng hàm lượng chất dinh dưỡng trong phân giảm xuống.

–          Sự giảm độ dễ tiêu của yếu tố lân. Người ta thường đưa phân lân thuộc dạng chứa lân hòa tan trong nước hoặc axit yếu, phân có thể chuyên thành dạng khó hoà tan. Thường gặp hiện tượng này khi dùng khí amôniac để amôn hoá supe lân hoặc khi dùng CaCO3, đôlômit để làm chất gia trọng.

 

2.  Phân bón dạng viên: Được trộn như phân dạng bột, thêm chất kết dính, làm ẩm và dùng máy viên lại sau đó sấy khô. Để làm giảm tính hút ẩm, đóng cục và phân không tiếp xúc quá nhiều với hạt giống, hạn chế rửa trôi, cung cấp chất dinh dưỡng dần dần cho cây trồng người ta đã áp đụng biện pháp bọc viên phân bằng màng mỏng. Nguyên liệu sử dụng làm màng mỏng là chất dẻo, nhựa (résin), sáp, parafin, lưu huỳnh nguyên tố.

 

Phân bón dạng viên có ưu điểm là giữ cho thành phần phân đồng nhất, tránh hiện tượng lắng các hạt xuông dưới làm cho thành phần phân không đều. Hạt phân ít bị hút ẩm, đóng cục và ít bị tác động của môi trường đất, giảm bớt sự rửa trôi và cung cấp chất dinh dưỡng cho cây điều hòa hơn.

 

3. Phân bón dạng dung dịch: Đó là loại phân lỏng, thường được sử dụng để bón lên lá. Bón phân qua lá phát huy hiệu lực nhanh. Tỷ lệ cây sử dụng chất dinh dưỡng thường đạt ở mức cao, cây sử dụng đến 95% chất dinh dưỡng bón qua lá, trong khi đó bón qua đất cây chỉ sử dụng 45-50%. Bón qua lá thường được tiến hành vào giai đoạn cây phát triến mạnh, để đáp ứng nhanh nhu cầu chất dinh dưỡng của cây. Đặc biệt là giúp cây chóng hồi phục sau khi bị sâu bệnh, bão lụt gây hại, hoặc trong đất thiếu chất dinh dưỡng.

 

Lưu ý: Khi sử dụng, phân ở dạng dung dịch cần phải hòa loãng phân theo đúng tỷ lệ được ghi trên bao bì. Không nên bón phân khi trời đang có nắng gắt, khô hạn, cây đang ra hoa kết trái.

 

VHDT - http://tinphanbon.com

 

Những điều cần lưu ý khi sử dụng

Tùy vào đặc tính lý học của hoạt chất, hoặc tùy vào mục đích sử dụng, thuốc bảo vệ thực vật có nhiều dạng thành phẩm khác nhau. Dạng thuốc được thể hiện qua tên của sản phẩm dưới dạng viết tắt của từ tiếng Anh. Ví dụ, dạng thuốc Topgun 700WP, được thể hiện bằng chữ WP, viết tắt của Wettable Powder, có nghĩa là bột thấm nước hay bột hòa nước.

 

Sau đây là một số dạng thuốc phổ biến và những lưu ý khi sử dụng:

 

1.THUỐC DẠNG HẠT HOẶC BỘT, KHI DÙNG KHÔNG HÒA VỚI NƯỚC:

THUỐC HẠT:

-Ký hiệu: G hoặc GR (viết tắt của từ Granule).

-Thuốc hạt được rải trực tiếp vào đất, không hòa với nước. Để lượng thuốc được rải đều trên ruộng, nên trộn thuốc với phân bón hoặc cát để rải.

-Có thể trộn thuốc với giống hoặc phân bón để rải đều trên ruộng, đồng thời giúp bảo vệ hạt giống khỏi sự phá hại của ốc bươu vàng.

 

THUỐC BỘT RẮC:

-Ký hiệu: D (viết tắt của từ Dust)

-Thuốc bột rắc được dùng để rải lên mặt đất hoặc trộn với hạt giống.

 

2.THUỐC DẠNG HẠT HOẶC BỘT, KHI DÙNG PHẢI HÒA VỚI NƯỚC:

2.1/ THUỐC HẠT PHÂN TÁN TRONG NƯỚC:

-Ký hiệu: WDG (Water Dispersible Granule), DG (Dispersible Granule), WG (Wettable Granule).

-Thuốc được hòa với nước để phun lên cây.

 

2.2/ THUỐC BỘT HÒA NƯỚC:

-Ký hiệu: WP (Wettable Powder), DF (Dry Flowable)

-Khi hòa với nước, hạt thuốc mịn sẽ lơ lửng trong nước tạo thành dạng huyền phù.

 

2.3/ THUỐC BỘT TAN TRONG NƯỚC:

-Ký hiệu: SP (Soluble Powder), WSP (Water Soluble Powder)

-Khi hòa với nước, thuốc tan hoàn toàn trong nước.

Lưu ý: Đối với các dạng thuốc hạt và thuốc bột, khi pha thuốc vào nước cần phải khuấy kỹ để đảm bảo thuốc tan hết và phân tán đều mới bảo đảm hiệu quả khi phun thuốc.

 

3.CÁC DẠNG THUỐC NƯỚC:

 

3.1/ THUỐC DẠNG NHŨ DẦU:

-Ký hiệu: EC (Emulsifiable Concentrate), ME (Micro-Emulsion), EW(Water-based emulsion), OD (Oil Dispersion), OS (Oil Soluble), SE(Suspo-Emulsion).

-Khi hòa thuốc vào nước, dung dịch nước thuốc có màu trắng như sữa (nhũ dầu).

 

3.2/ THUỐC DẠNG DUNG DỊCH:

-Ký hiệu: SL (Soluble Liquid), L (Liquid), AS (Aqueous Solution)

-Khi hòa thuốc vào nước, dung dịch nước thuốc là một chất lỏng đồng nhất và trong suốt.

 

3.3/ THUỐC DẠNG HUYỀN PHÙ (CÒN GỌI LÀ THUỐC SỮA)

-Ký hiệu: FL (Flowable Liquid), FC (Flowable Concentrate), SC(Suspensive Concentrate),

F (Flowable), FS (Flowable Concentrate)

-Trước khi sử dụng phải lắc đều chai thuốc.

 

NHỮNG ĐIỀU CẦN LƯU Ý KHI PHỐI HỢP NHIỀU LOẠI THUỐC

Khi cần phải phối hợp nhiều loại thuốc có dạng khác nhau, cần chú ý nguyên tắc:

-Thuốc bột trước, thuốc nước sau

-Thuốc dung dịch trước, thuốc nhũ dầu sau.

ThS Nguyễn Hoàng Dũng (P.PTKD) -http://www.mappacific.com

Hotline: 01203894001 / 01285940804 (Đại lý CHUYÊN phân phối sản phẩm công ty)
 

Những điểm lưu ý khi sử dụng phân bón nhằm tránh phân bón giả, phân bón kém chất lượng

Phân bón giả, phân bón kém chất lượng đang là vấn đề được bà con nông dân rất quan tâm vì khi mua và sử dụng phân bón giả, phân kém chất lượng sẽ gây thiệt hại rất lớn đến năng suất, chất lượng cây trồng, gây thiệt hại nặng nề về kinh tế cho người nông dân. Nhằm giúp cho người dân hạn chế tối đa việc mua và sử dụng phân bón giả, phân kém chất lượng, cơ quan chức năng đặc biệt là lực lượng Thanh tra nông nghiệp tăng cường công tác Thanh kiểm tra, xử lý nghiêm các cơ sở sản xuất, kinh doanh phân bón giả, phân kém chất lượng.

Trong năm 2015 Thanh tra Bộ Nông nghiệp &PTNT tổ chức hội nghị phổ biến một số văn bản pháp luật mới trong lĩnh vực nông nghiệp, có thảo luận về vấn đề làm thế nào giúp cho người nông dân phân biệt được phân bón giả, phân bón kém chất lượng. Dưới đây chúng tôi xin tổng hợp những đặc điểm cơ bản, những cách giúp bà con nông dân phân biệt được phân bón giả - thật.

 

Cách phân biệt phân bón thật-giả

I. Phân U-rê:

Có hai loại phân U-rê chính là loại hạt trong và hạt đục, cả hai loại đều có công thức hóa học và hàm lượng ni-tơ như nhau, tối thiểu là 46%.

- Phân U-rê hạt trong: là loại phổ biến nhất, phân rất dễ tan, có màu trắng trong, dạng hạt tròn. Đây là loại phân rất khó làm giả, tuy nhiên đã xuất hiện loại kém chất lượng bằng cách trộn phân SA vào phân U-rê theo một tỷ lệ nhất định do phân SA rẻ hơn phân U-rê.

Đặc điểm để nhận biết là phân U-rê thật chỉ có dạng hạt tròn, còn nếu có lẫn phân SA thì các hạt phân SA có dạng tinh thể, nhiều góc cạnh. Hiện nay nước ta chỉ có 2 nhà máy sản xuất được U-rê hạt trong là Đạm Hà Bắc và Đạm Phú Mỹ, còn lại là U-rê nhập khẩu. Do đó, phân U-rê của các cơ sở sản xuất khác ở trong nước đều là hàng giả. Vì vậy, bà con nông dân nên chọn mua 2 loại U-rê Hà Bắc và Phú Mỹ, hoặc U-rê trên bao bì có ghi rõ ràng nguồn gốc nhập khẩu.

- Phân U-rê hạt đục: đây là loại phân rất tốt, phân có dạng hạt to, đường kính hạt 2- 4mm, cứng, màu trắng đục như sữa. Đây là loại phân phải nhập khẩu 100%, rất khó làm giả hoặc việc làm giả không đem lại lợi ích đáng kể. Bà con nông dân có thể an tâm khi mua và sử dụng loại phân này.

Đối với các loại phân hỗn hợp NPK nói chung rất khó phân biệt được thật - giả và xác định được mức chất lượng bằng cảm quan thông thường mà phải dựa trên kết quả phân tích của các trung tâm phân tích. Kinh nghiệm chung để mua được đúng chủng loại và chất lượng các loại phân NPK là chọn mua sản phẩm của các công ty lớn, có uy tín trên thị trường, mua tại các đại lý bán hàng chính thức của các công ty đó.

 

II.Phân Ka-li clo-rua (KCl) chứa 60% K2O

Màu sắc đặc trưng: đỏ hồng, hồng nhạt, đỏ tím và màu trắng. Đây là loại phân chứa Ka-li phổ biến nhất, và cũng là loại phân bị lợi dụng làm giả, làm nhái nhiều nhất, gây tổn thất nặng nề nhất cho người nông dân do chênh lệch giá giữa hàng thật-hàng giả rất lớn, lại dễ làm giả.

 

Nông dân dễ bị mua phải phân Ka-li giả do trên thị trường có các loại phân NKS, KNS, NPK… được một số nhà sản xuất cố tình làm rất giống phân Clo-rua Ka-li về mặt hình thức, nhất là màu đỏ đặc trưng của Kali, nhưng thực chất chỉ có từ 10-30 % là Ô-xit Ka-li, còn lại là phân SA, muối ăn, phẩm màu, bột sét đỏ. Đây là loại phân phải nhập khẩu 100%, do đó khi mua hàng, người nông dân cần yêu cầu đại lý: Bán cho loại phân Ka-li thật, có hàm lượng K2O ≥ 60%, sau đó phải xem bao bì có đúng là hàng nhập khẩu hay không. Các loại phân do các cơ sở trong nước sản xuất, trên bao bì không ghi hàm lượng K2O chiếm 60% thì đều là hàng giả, hàng nhái.

 

Khi mua hàng nên mang theo một chiếc cốc thủy tinh nhỏ, trắng và trong suốt cùng một ít nước sạch trong cốc. Thả một nhúm chừng 3-5 gam sản phẩm vào trong cốc nước có dung tích 50-100 ml để làm thực nghiệm và quan sát kết quả như sau:

Cách thử: Cho 3-5 gam phân khô ráo vào cốc nước trong.

 

Phân Kali clorua thật:

- Cốc nước chưa có màu hồng đỏ

- Một phần chìm xuống nước, một phần vẫn nổi trên mặt cốc nước

- Sau khi khoắng mạnh, dung dịch chuyển sang màu hồng nhạt, không vẩn đục, có váng đỏ bám quanh thành cốc. Phân tan hết.

 

Phân Kali clorua kém chất lượng:

- Cốc nước lập tức có màu hồng đỏ

- Toàn bộ phân chìm xuống và tan rất nhanh,

- Sau khi khoắng mạnh, dung dịch có màu hồng đỏ, vẩn đục, không có váng đỏ bám quanh thành cốc. Có thể để lại cặn không tan hết.

- Phân Màu trắng, ở dạng hạt nhỏ hoặc bột, cũng là loại phân phải nhập khẩu, số lượng dùng không phổ biến, dễ bị làm giả khi trộn lẫn với bột đá vôi hoặc bột vôi sống, bột đất sét trắng. Cách phân biệt như sau:

Cách thử: Cho 7-10 gam phân vào cốc nước trong.

Phân Sun - phát Ka - li (SOS) thật: Tan hết trong nước, dung dịch có màu trong suốt.

Phân giả: Có thể không tan hết, để lại cặn lắng (bột đá) hoặc dung dịch vẩn đục do huyền phù của vôi hoặc sét trắng.

http://gianhangvn.com/hvp
Hotline: 0128 594 0804 (Đại lý CHUYÊN phân phối sản phẩm công ty)
 
VÌ SAO CÁ NGỪ NHẬT CÓ GIÁ HÀNG TRIỆU USD?
 

Chất lượng hảo hạng không làm nên mức giá hàng triệu USD cho cá ngừ Nhật Bản. Đó là kết quả của cuộc cạnh tranh thương hiệu giữa những ông chủ nhà hàng sushi ở Tokyo.

 

Người Nhật không thể không có cá ngừ. Với quốc gia này, thiếu kuromaguro (sushi làm từ cá ngừ vây xanh) chẳng khác nào nước Mỹ không có xúc xích, không bánh kẹp, hay sinh nhật thiếu bánh gato.
 
The Independent thống kê, mỗi năm, người Nhật tiêu thụ khoảng 3/4 lượng cá ngừ vây xanh khai thác được trên thế giới, và 80% lượng cá ngừ đánh bắt từ Địa Trung Hải sẽ kết thúc số phận của chúng trên bàn ăn ở xứ sở hoa anh đào.
 
Trước những năm 1960, chỉ Mỹ và Nhật đánh bắt loại cá này. Ở Mỹ, cá ngừ khi đó được dùng làm thức ăn cho mèo, còn người Nhật cho rằng, đây là loại thịt thấp cấp, phế phẩm, vì chúng có vị nhạt nhẽo và đầy mỡ. Mỗi thuyền đi biển, người dân có thể có thể câu được nửa tá cá ngừ một ngày, nhưng phải bán tới 4 con mới đủ tiền mua một bao thuốc lá.
 
Mọi chuyện đổi khác vào thập niên 1980, khi cá ngừ vây xanh dần được dùng làm nguyên liệu cho món sushi, và trở nên nổi tiếng trên toàn cầu, tạo nên ngành công nghiệp trị giá hàng tỷ USD cho Nhật.
 
Với nhu cầu ngày càng tăng, cá ngừ trở thành mục tiêu của những chuyến đi biển dài ngày của ngư dân khu vực Thái Bình Dương, Địa Trung Hải. Việc đánh bắt quá mức với niềm tin "đây là nguồn lợi không bao giờ cạn", đã đẩy trữ lượng cá ngừ toàn cầu giảm 60% trong khoảng thời gian từ năm 1997 đến 2007.
Người mua kiểm tra chất lượng những con cá ngừ đông lạnh trước phiên đấu giá đầu năm ở chợ cá Tsukiji, Tokyo, Nhật Bản vào ngày 5/1/2015. Ảnh: AP.
Năm 2013, một con cá ngừ đã đạt mức giá kỷ lục là gần 2 triệu USD, nhưng không ai hiểu vì sao giá cá lại ngày một cao như thế, đắt hơn nhiều lần so với thời điểm 5 năm trước. Chất lượng hảo hạng nhờ quy trình đánh bắt, bảo quản cực kỳ khắt khe không làm nên mức giá hàng triệu USD cho cá ngừ Nhật Bản.
 
Thực tế, đây là cuộc đua giữa những người mua, những ông chủ nhà hàng muốn tạo lập danh tiếng trong buổi đấu giá đầu tiên của năm tại chợ cá lớn nhất thế giới Tsukiji (Tokyo).
 
Kiyoshi Kimura, chủ sở hữu một chuỗi nhà hàng sushi của Nhật Bản, đã trả mức giá không tưởng này cho con cá ngừ vây xanh đầu tiên tại Tsukiji, nặng 222 kg. Với mức giá này, một suất cá ngừ tại nhà hàng của Kimura phải có giá tối thiểu là 345 USD thì mới hòa vốn. Thế nhưng, nhà hàng này chỉ bán giá 4,6 USD, và chịu lỗ nặng.
 
Nhưng điều đó không làm ông Kimira phiền lòng. Ngay trong ngày bán đấu giá, hàng trăm tờ báo, trang tin nói về chiến thắng của ông, về mức giá "khủng" của con cá. Nhà hàng của vị doanh nhân này nhanh chóng nổi tiếng trên toàn thế giới.
 
Năm 2014, Kiyoshi Kimura tiếp tục thắng phiên đấu giá cá ngừ đầu tiên trong năm tại chợ cá lớn nhất thế giới, nhưng chỉ phải trả 70.000 USD để mang về con cá nặng 230 kg. Đến năm 2015, số tiền ông bỏ ra cho con cá đắt nhất được bán tại đây chỉ còn 37.500 USD.
 
Giảm giá, bị áp hạn ngạch khai thác chỉ 14.200 tấn mỗi năm, cá ngừ Nhật Bản dường như đã tìm lại được giá trị thực của mình trong nỗ lực hạ nhiệt thị trường của Chính phủ. Không còn giá cao ngất ngưởng, cá ngừ vây xanh Nhật có thể tránh được nguy cơ tuyệt chủng do bị tận diệt và bảo đảm tương lai bền vững cho những người làm nghề đánh bắt cá ở quốc đảo này.
 
Tuy nhiên, với nhiều ngư dân, nỗ lực này dường như đã muộn. Akihiro Furukawa, một ngư dân với kinh nghiệm 13 năm đánh bắt cá ngừ đại dương, từng chia sẻ với The Guardian rằng, ông lo cho tương lai của người con sắp nối nghiệp mình. "Con trai muốn theo bước chân của tôi, nhưng tôi lo rằng đến khi nó có đủ kinh nghiệm đi biển thì chẳng còn cá ngừ để bắt nữa".
 
T.A (zing)
http://gianhangvn.com/hvp
Hotline: 0128 594 0804 (Đại lý CHUYÊN phân phối sản phẩm công ty)

Các tin khác